Liên kết web
congbao
Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam
cổng thông tin
Hội thi sáng tạo KH&KT tỉnh Bình Định lần thứ X (2016-2017)
Sở KH & CN Bình Định
LHH Việt Nam
XÉT CHỌN VÀ TÔN VINH DANH HIỆU \\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\
Trung tâm Thông tin xúc tiến Du lịch Bình Định
Công ty Dược - Trang thiết bị y tế Bình Định (Bidiphar)
Trung tâm hỗ trợ phát triển công nghệ thông tin tỉnh Bình Định
Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Bình Định
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bình Định
Biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay là vấn đề lớn của toàn cầu, trái đất nóng lên, băng Bắc cực tan chảy... làm nước biển dâng cao. Dự tính của các nhà khoa học chỉ trong thế kỷ này nước biển sẽ dâng từ 0,3 - 0,75m, nước mặn sẽ xâm nhập vào vùng thấp ven biển, tình trạng thiên tai lũ lụt hạn hán gia tăng, nhiệt độ tăng cao, giảm lượng mưa.

Mô hình của dự án (Ảnh: BBT)

           Các tổ chức quốc tế nhận định, Việt Nam là một trong những quốc gia bị thiệt hại nặng nề do biến đổi khí hậu: gần 50% đất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập chìm; Vùng thấp Đồng bằng Sông Hồng, toàn bộ dân cư sống dọc theo ven biển cũng bị ảnh hưởng. Kể cả khu vực miền Trung là vùng tương đối cao, nhưng nước biển dâng cũng làm việc thoát lũ chậm hơn. BĐKH sẽ gây ra trạng thái thời tiết cực đoan, mùa hạn thì hạn nhiều hơn đến mùa lũ thì lũ nhiều hơn.  Yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp thích ứng BĐKH (nhất là sản xuất lúa) hiện nay rất cấp thiết đối với ngành nông nghiệp của Bình Định, nhất là những vùng đã được xác định trong kịch bản tác động BĐKH của Bình Định bao gồm các xã vùng trũng ven đê đông của Tuy Phước (Phước Thắng, Phước Sơn, Phước Hòa, Phước Thuận) và Phù Cát (Cát Tiến, Cát Chánh). Đây là những vùng sản xuất lúa thường bị tác động do thời tiết bất thường: úng ngập ở đông xuân và xì phèn nhiễm mặn nặng ở vụ hè thu;  bên cạnh đó còn bị thêm tác động của triều cường, nước biển xâm nhập vào đồng ruộng gây nhiễm mặn. Trong đó, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước được xác định là vùng khá đặc thù với vị trí địa lý đặc biệt, nằm cuối nguồn hệ thống sông Kôn đổ vào đầm Thị Nại, tiếp giáp với cửa biển nên ngập úng do lũ lụt trên diện rộng thường xuyên ở vụ đông xuân (tháng 10 và 12) và hạn hán do thiếu nước gây xì phèn mặn xảy ra ở vụ thu (tháng 6 – 8). Trong 9 thôn của xã thì 2 thôn Kim Đông (diện tích lúa 152 ha) và Tân Giản (diện tích lúa 144 ha) do điều kiện đặc thù là vùng trũng thấp nhất nên cứ trung bình 3 vụ sản xuất thì có một vụ năng suất lúa bị ảnh hưởng nghiêm trọng do ngập úng, phèn mặn làm giảm năng suất từ 50 – 70%, có diện tích mất trắng. Vì vậy, năng suất trung bình chung của vùng Kim Đông, Tân Giản khá thấp khoảng 52,9 tạ/ha. Cũng do điều kiện khó khăn nên ở một số vụ sản xuất có nhiều diện tích nông dân đã bỏ không gieo sạ lại, sau khi bị triều cường, ngập úng, xì phèn nhiễm mặn làm chết lúa, phải gieo sạ lại 3 – 4 lần, quá trễ so với lịch thời vụ chung (sau 20/1 ở vụ đông xuân và sau 10/6 ở vụ hè thu). Tình hình này đã gây tác động đến an ninh lương thực và đời sống của người dân do thu nhập hoàn toàn phụ thuộc vào cây lúa.

               Vì vậy, Quỹ Môi trường tòan cầu GEF/SGP (UNDP) đã hỗ trợ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Bình Định chủ trì thực hiện dự án “ Góp phần giảm thiểu tác hại của ngập úng và xâm nhập mặn do nước dâng nhằm phát triển bền vững sản xuất nông nghiệp và bảo đảm an ninh lương thực tại xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định” tại 2 thôn Kim Đông, Tân Giản - xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước với kinh phí tài trợ từ GEF là 50.000 USD, cộng vớivốn đối ứng của tỉnh, vốn trong dân, tổng kinh phí dự án trên 1,5 tỷ đồng. Thời gian từ tháng 10/2009 – tháng Với mục tiêu là phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững dựa vào cộng đồng nhằm hạn chế thiệt hại do lũ lụt và nước biển dâng, thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và thu nhập ổn định cho nông dân; Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với các bên tham gia: Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND huyện Tuy Phước, UBND xã Phước Hòa, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp (KHKTNN) Duyên hải Nam Trung bộ để  giải quyết hai vấn đề khó khăn đối với sản xuất lúa và sinh kế của người dân vùng dự án (là ngập úng nặng trong vụ đông xuân, khi lũ về kết hợp với triều cường và nhiễm mặn, xì phèn trong vụ Thu). Dự án đã tập trung giải quyết được các thách thức trên thông qua hỗ trợ cộng đồng nâng cao năng lực, duy trì sản xuất lúa ổn định, hiệu quả trong điều kiện úng ngập bất thường do mưa lũ, triều cường và nắng hạn gây xì phèn, nhiễm mặn do nước biển xâm nhập. Kết quả đã giải quyết được 2 thách thức trên, ổn định năng suất lúa cho vùng dự án ngay cả trong điều kiện thời tiết khó khăn.

            Để chọn lựa các giống lúa thích ứng điều kiện ngập úng, nhiễm phèn mặn do mưa lũ bất thường, triều cường gia tăng cường độ, tần suất, dự án đã áp dụng phương pháp PVS – Participatory Varietal Selection (Lựa chọn giống lúa dựa vào cộng đồng) của Viện nghiên cứu lúa gạo IRRI. Từ bộ giống lúa do Viện KHKTNN Duyên hải Nam Trung bộ giới thiệu: ĐV 108, IR 64 Sub1, SH 2, 24SS, AS996…thông qua PVS, cộng đồng đã lựa chọn được 3 giống lúa thích hợp để sản xuất trong điều kiện ngập úng và phèn mặn ở Phước Hòa. Gồm: 2 giống lúa phù hợp trong giai đoạn hiện nay là SH 2 và ĐV 108 và 1 giống lúa thích hợp khi úng ngập sâu hơn là IR 64 Sub1. Đây là giống lúa được ghi nhận có khả năng thích ứng rất tốt đối với tình trạng ngập úng sâu và kéo dài hơn, có thể chịu được ngập từ 10 – 15 ngày, khả năng đẻ nhánh rất mạnh (gần gấp đôi so với ĐV 108), tiềm năng năng suất 65 tạ/ha, chất lượng gạo ngon. Tuy nhiên trong điều kiện ngập úng diễn ra ở mức độ như hiện nay thì IR 64- Sub1 có năng suất thấp hơn so với SH 2 và ĐV 108.

              Từ các giống lúa thích ứng, dự án kết hợp thêm các giải pháp kỹ thuật phù hợp để xây dựng mô hình sản xuất lúa thâm canh, thích ứng úng ngập ở 2 vụ đông xuân: Vụ đông xuân 2009 – 2010 và vụ đông xuân 2010 – 2011; mô hình thích ứng tình trạng nhiễm phèn mặn ở 2 vụ thu: vụ thu 2010 và vụ thu 2011. Quy mô diện tích đã thực hiện qua 4 vụ là 40 ha (10 ha/vụ)với số lượng hộ nông dân tham gia: 77 người/10 ha. Trải qua 4 vụ sản xuất từ năm 2009 – 2011, tuy diễn biến thời tiết rất bất  thường, ở vụ đông xuân, mưa lũ không xảy ra vào đầu vụ (tháng 12) như quy luật hàng năm mà mưa bất thường rơi vào đầu tháng 1 và ở cả 2 vụ thu của 2 năm 2010 và 2011 đều xảy ra mưa lớn vào sau tiết tiểu mãn nên gây úng ngập vùng dự án bất thường. 

              Nhờ sử dụng các giống lúa phù hợp, chống chịu phèn mặn, ngập úng, năng suất cao, kết hợp với các giải pháp kỹ thuật canh tác thích ứng úng ngập và phèn mặn đã giúp hạn chế việc nông dân phải bỏ ruộng do ngập úng kéo dài, mưa lũ bất thường, nhiễm mặn do nước biển tràn vào đồngruộng…; góp phần giảm bớt các chi phí nhất là về giảm số lượng giống gieo sạ, giảm công lao động, chi phí thuốc bảo vệ thực vật, mặc dù chi phí phân bón, vôi có tăng hơn so với sản xuất theo tập quán của người dân trước khi thực hiện dự án nhưng nhờ năng suất cao hơn so với trước khi thực hiện dự án, nên đã gia tăng lợi nhuận và thu nhập cho người nông dân. Vì vậy, tuy diễn biến thời tiết ở 4 vụ sản xuất từ đông xuân 2009 – 2010 đến vụ thu 2011 đều bất thường, khó lường và gây bất lợi đến sản xuất lúa nhưng năng suất lúa của 2 thôn Tân Giản và Kim Đông (có điều kiện sản xuất khó khăn nhất xã Phước Hòa) đã đạt trung bình từ 64,0 tạ/ha, cao hơn hẵn so với năng suất trung bình trước khi thực hiện dự án 11,4 tạ/ha và cũng cao hơn so với vùng lân cận có cùng điều kiện. Diễn biến thời tiết càng bất lợi và phức tạp thì chênh lệch năng suất của mô hình càng cao hơn so với năng suất của ruộng ngoài mô hình có cùng điều kiện. Năng suất lúa đạt được ở mức trung bình cao 64,0 tạ/ha đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực, một phần thóc dư có thể bán đi để ổn định đời sống, đảm bảo sinh kế cho người dân ở vùng khó khăn. Về lợi nhuận, nhờ tăng năng suất, giảm chi phí đầu vào nên thu nhập của nông dân được tăng lên 7.910.000 đồng/ha. Đây là một số tiền không nhỏ so với thu nhập bình quân chung rất thấp của nông dân, trungbình khoảng 500.000 đồng/hộ/tháng.

               Bên cạnh hiệu quả kinh tế, do đã chútrọng đến việc quản lý dinh dưỡng cân đối theo ICM, quản lý dịch hại tổng hợp IPM nên đã giúp hạn chế việc sử dụng phân bón vô cơ không phù hợp (giảm sử dụng ure đơn độc, dễ bị bốc thoát, rửa trôi, vừa kém hiệu quả vừa ô nhiễm môi trường đất, nước, tăng cường sử dụng các loại phân bón hữu cơ vi sinh, phân phức hợp tan chậm, bổ sung các nguyên tố trung, vi lượng…); đặc biệt thông qua sạ mật độ hợp lý, bón phân cân đối đã hạn chế điều kiện cho các loại sâu bệnh phát sinh, hướng dẫn người dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc “4 đúng” đã giảm tình trạng nông dân lạm dụng thuốc trừ sâu, bệnh trong sản xuất (giảm số lần phun thuốc BVTV từ 2 – 4 lần/vụ), từ đó hạn chế dư lượng thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước, tích tụ hóa chất độc hại trong nông sản phẩm làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

                   Các giải pháp kỹ thuật của dự án đã được trình diễn thông qua mô hình và được sự đánh giá cao của chính quyền địa phương, ngành nông nghiệp và cộng đồng. Các giải pháp không phức tạp, có cơ sở khoa học và được kiểm chứng qua thực tiễn nên tính khả thi cao, có thể áp dụng trên diện rộng cho các vùng có điều kiện tương tự trong những tình huống thời tiết diễn biến bất thường tương tự. Vì vậy, để chia sẻ kết quả, kinh nghiệm đạt được của dự án, đầu mỗi vụ dự án đều tổ chức tập huấn kỹ thuật sản xuất lúa cho nông dân, trong và sau mỗi vụ sản xuất dự án đều tổ chức Hội thảo đầu bờ để giới thiệu các giải pháp kỹ thuật cho nhân dân sản xuất lúa trong và ngoài vùng dự án. Thông qua các chương trình, hội thảo kỹ thuật của Sở NN và PTNT Bình Định, các giải pháp kỹ thuật cũng đã được giới thiệu, chia sẻ để vận dụng trong những điều kiện cụ thể. Dự án CBA Phước Hòa không đơn thuần chỉ triển khai mô hình trình diễn, mà thông qua mô hình đã lồng ghép đưa đến cộng đồng nhiều thông tin góp phần nâng cao năng lực cho cộng đồng về tác động bất lợi của BĐKH, đến sản xuất cũng như khả năng thích ứng để ổn định sản xuất, đời sống của chính quyền địa phương cũng như cộng đồng dân cư. Thông qua kết quả mô hình đã giúp cộng đồng và chính quyền cơ sở tự tin hơn về khả năng của bản thân, cũng như tin tưởng sẽ có các giải pháp kỹ thuật giúp cộng đồng có thể thích ứng sản xuất trong điều kiện úng ngập và phèn mặn. Những bài học kinh nghiệm của việc thử nghiệm bằng dự án sẽ là cơ sở cho địa phương hoạch định khả năngtriển khai trên một diện tích lớn hơn,nhằm ứng dụng ở những diện tích lúa phù hợp cũng như tiếp tục tìm kiếm các giải pháp thích ứng khácđể đưa vàotriển khava, giải quyết những tác động trước mắt vàlâu dài của biến đổi khí hậu.

            Kết quả trên đãkhẳng định, cần tiếp tục hỗ trợ nâng cao nhận thức và năng lực sản xuất thích ứng với BĐKH cho cộng đồng người dân thông qua chuyển giao các giải pháp kỹ thuật thích hợp, chủ động ứng phó, giảm thiểu tác động bất lợi đến sản xuất sẽ  đảm bảo duy trì sản xuất lúa trong điều kiện khó khăn, đảm bảo an ninh lương thực, thu nhập, ổn định sinh kế và đời sống người dân ở những vùng khó khăn, đang bị tác động bất lợi do mưa lũ, triều cường, nhiễm phèn mặn ngày càng bất thường,nhất là những vùng chỉ có thể sản xuất lúa như vùng ven đê Đông của tỉnh Bình Định ./.

TS. Nguyễn Thị Tố Trân

(Sở NN & PTNT Bình Định) 


KT  (Cập nhật ngày 28-08-2013)    



  Hình ảnh hoạt động
  Thông báo
GIẢI THƯỚNG SÁNG TẠO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
CÁC BẠN NHẤP VÀO BIỂU TƯỢNG VIFOTEC BÊN TRÁI MÀN HÌNH ĐỂ TÌM HIỆU VỀ THỂ LỆ VÀ MẪU ĐƠN ĐĂNG KÝ
  Lịch
  Video
sitemap
Trung tâm DSTT Bình Định
Hoi kien truc su binh dinh
Nop ho so truc tuyen
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
  Thống kê người dùng
  Đang online:
78
  Số lượt truy cập:
1313729
 
Bản quyền website thuộc về:LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT BÌNH ĐỊNH. ĐT: 056.3828598. Email: lhhbdinh@gmail.com. Địa chỉ: 472 Trần Hưng Đạo, TP.Quy Nhơn. Chịu trách nhiệm quản lý: TTND.BSCKII Nguyễn Thị Thanh Bình - Chủ tịch Liên hiệp Hội