Đoàn kết - Trách nhiệm - Sáng tạo - Phát triển
  
  Liên kết web
congbao
Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam
cổng thông tin
Hội thi sáng tạo KH&KT tỉnh Bình Định lần thứ XI (2018-2019)
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LIÊN HIỆP CÁC HỘI KH&KT BÌNH ĐỊNH LẦN V (2018-2023)
Công ty Dược - Trang thiết bị y tế Bình Định (Bidiphar)
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bình Định
Cuộc thi STTTNNĐ lần VI năm (2018 - 2019)
Hội Khoa học Kỹ thuật Bảo vệ thực vật Bình Định (Hội KHKTBVTV) được thành được thành lập theo Quyết định số 806/QĐ-CTUBND, ngày 11 tháng 4 năm 2006 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định và Quyết định số 08/06/HBVTV, ngày 25 tháng 5 năm 2006 của Chủ tịch Hội KHKT BVTV Việt Nam. Hiện nay, Hội có 83 thành viên, hội viên của Hội hầu hết là công chức, viên chức đang công tác trong lĩnh vực BVTV tỉnh và một số cán bộ đã về hưu của ngành nông nghiệp.

Mô hình sản xuất thâm canh lạc thương phẩm thu đông trên đất lúa kém hiệu quả tại xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn, Bình Định do Hội KHKT Bảo vệ thực vật Bình Định thực hiện.

Về thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội:Chấp hành các quy định của pháp luật có liên quan đến tổ chức, hoạt động của Hội. Tổ chức hoạt động theo Điều lệ Hội đã được phê duyệt.Tập hợp, đoàn kết, củng cố, tuyên truyền phát triển hội viên; tổ chức, phối hợp hoạt động giữa các hội viên, tạo điều kiện để các hội viên tham gia đóng góp cho sự phát triển công tác trồng trọt và bảo vệ thực vật, phục sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường sinh thái.Tổ chức và hỗ trợ thực hiện chương trình, dự án khoa học công nghệ về trồng trọt và bảo vệ thực vật, phổ biến kiến thức, chuyển giao các tiến bộ khoa học, công nghệ về bảo vệ thực vật đến cộng đồng để ứng dụng rộng rãi trong hoạt động sản xuất...

Từ năm 2013 - 2018, Hội KHKTBVTV tỉnh đã chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn mà trực tiếp là Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Trung tâm Khuyến nông tỉnh chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp đến nông dân trong tỉnh, cụ thể:

Tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về canh tác, phòng trừ dịch hại cho nông dân thực hiện cánh đồng mẫu lớn, cách đồng lớn, cánh đồng liên kết

Chương trình Cánh đồng mẫu lớn bắt đầu thực hiện tại tỉnh Bình Định từ năm 2012, đã đem lại những kết quả tích cực: Tập hợp “những diện tích sản xuất nhỏ” thành “cánh đồng lớn” để các doanh nghiệp có điều kiện tham gia hình thành các chuỗi liên kết sản xuất lúa, lạc, ngô… đem lại hiệu quả cao, phù hợp với định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh.

Hàng năm, thực hiện trên 250 cánh đồng mẫu lớn với các loại cây trồng, có quy mô diện tích trên 12.000 ha, với hơn 68.800 hộ nông dân tham gia; triển khai xây dựng thành công 2 dự án cánh đồng lớn sản xuất lúa giống ở xã Phước Hưng và Phước Sơn (huyện Tuy Phước), diện tích 200 ha; các doanh nghiệp liên kết thực hiện 42 cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa giống với diện tích trên 2.000 ha.

Từ năm 2013-2018: Hội đãphối hợp tổ chức 106 lớp cho 9.173 nông dân, tập huấn hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng trên cánh đồng mẫu lớn, cách đồng lớn, cánh đồng liên kết ở các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh 

Kết quả tại các mô hình: Năng suất lúa cánh đồng mẫu lớn đạt 70 tạ/ha, tăng 3 tạ/ha so ngoài mô hình, lợi nhuận cao hơn ngoài mô hình 4,4 triệu đồng/ha.  Đối với cánh đồng liên kết, lợi nhuận sản xuất lúa giống ước đạt 36,8-39,6 triệu đồng/ha cao hơn 11,8-15,8 triệu đồng/ha so với sản xuất lúa thương phẩm. Việc liên kết sản xuất giống lúa cho các công ty, tổng công ty ngoài tỉnh đã góp phần nâng cao giá trị,  thu nhập trong sản xuất lúa của nông dân, ngoài ra việc liên kết sản xuất giống lúa mới có năng suất chất lượng cao còn góp phần bổ sung các giống mới, giống chất lượng vào cơ cấu giống của tỉnh, đưa tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận của tỉnh đạt trên 99%.

Kết quả thực hiện cánh đồng mẫu lớn, cách đồng lớn, cách đồng liên kết trong những năm qua tại Bình Định đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT đánh giá cao và được xác nhận Bình Định là một trong những tỉnh thực hiện tốt chương trình cánh đồng mẫu lớn ở khu vực Duyên hải miền Trung – Tây nguyên.

Phối hợp xây dựng và chuyển giao mô hình chuyển đổi cây trồng, mùa vụ

            Phối hợp xây dựng và tổ chức chuyển giao nhân rộng mô hình chuyển đổi có hiệu quả ra sản xuất đại trà như: Chuyển đổi từ sản xuất 1 vụ lúa bấp bênh sang 1 vụ lạc - 2 vụ hành thu nhập 150-180 triệu đồng/ha/năm; mô hình chuyển đổi sản xuất từ 3 vụ lúa bấp bênh sang canh tác các loại cây trồng cạn: ngô, lạc, dưa, ớt, vừng, hành, rau các loại cho thu nhập 120- 150 triệu đồng/ha/năm; mô hình chuyển đổi trồng lạc - dưa leo - khổ qua hoặc lạc - 2 vụ hành lá - dưa leo giá trị thu nhập trên 200 - 300 triệu đồng/ha/năm; chuyển đổi diện tích sản xuất lúa năng suất bấp bênh sang mô hình 1 vụ lúa + hoa huệ cho thu nhập trên 120 triệu đồng/ha/năm…

 Xây dựng và chuyển giao mô hình chuyển đổi diện tích sản xuất 3 vụ lúa/năm bấp bệnh sang sản xuất 2 vụ/năm hiệu quả, kết quả trong giai đoạn 2013 - 2017 đã chuyển được 3.833 ha (từ 16.000 ha năm 2012 xuống còn 12.167 ha năm 2017), bình quân chuyển đổi 766 ha/năm. Tham mưu xây dựng Đề án chuyển đổi cây trồng trên đất sản xuất 3 vụ lúa/năm sang cây trồng khác có hiệu quả tỉnh Bình Định đến năm 2020, phấn đấu đến hết năm 2020, diện tích lúa của tỉnh Bình Định chỉ sản xuất 2 vụ/năm.

            Chuyển giao kỹ thuật sản xuất lúa lai cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn

            Thực hiện chính sách hỗ trợ lúa lai cho độ đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số 52/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Định,  từ năm 2016 đến nay đã thực hiện hỗ trợ giống lúa lai cho đồng bào dân tộc thiểu số sản xuất với diện tích 7.271,2 ha.  

            Các thành viên Hội đã phối hợp tập huấn, hướng dẫn chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên lúa lai cho bà con nông dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả giúp các hộ đồng bào dân tộc thiểu số canh tác có hiệu quả, cây lúa lai sinh trưởng phát triển khá tốt, sâu bệnh được khống chế, năng suất lúa lai bình quân ước đạt 59,9 tạ/ha, tăng bình quân 7,2 tạ/ha so với lúa thuần; thu nhập bình quân cao hơn 4,3 triệu/ha so với sản xuất lúa thuần trong cùng điều kiện.

Công tác thực nghiệm, thí nghiệm, ứng dụng tiến bộ KHKT, nghiên cứu khoa học

+ Phối hợp triển khai làm thí nghiệm 12 loại thuốc trừ rầy nâu, rầy lưng trắng; 4 công thức thuốc trừ ốc bươu vàng hại lúa; 11 công thức thuốc phòng trừ bệnh chết nhanh hại hồ tiêu.. Từ kết quả khảo nghiệm đã đưa các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh có hiệu quả vào trong công tác chỉ đạo sản xuất của tỉnh.

Hiệu quả mang lại:Hiệu lực diệt rầy nâu ngoài đồng ruộng cao hơn 80%, có thời điểm lên đến 90-95%. Trong khi các công thức trừ rầy trước đây chỉ có hiệu lực tối đa là 75%, diệt được rầy ở mọi lứa tuổi (từ rầy non đến rầy trưởng thành). Số lần phun thuốc trừ rầy nâu trên ruộng lúa giảm từ 1-2 lần/vụ. Số tiền sử dụng cho phòng trừ rầy nâu giảm trung bình 5 -50 nghìn đồng/sào. Hơn 10.000 lúa nhiễm rầy nâu hàng năm được bảo vệ nhờ các công thức trừ rầy nêu trên.

+ Phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậthoàn thành đề tài “Nghiên cứu quy luật phát sinh gây hại và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh thối thân hại lúa tại Bình Định” và báo cáo nghiệm thu tại Hội đồng Khoa học công nghệ tỉnh Bình Định, kết quả đạt xuất sắc. Trong khuôn khổ của đề tài, xây dựng và chuyển giao quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh thối thân hại lúa có hiệu quả trên địa bàn tỉnh.

 Hiệu quả từ kết quả đề tài, đã ứng dụng trong sản xuất cho thấygiảm 3 - 4 lần phun thuốc so với ruộng nông dân. Ruộng mô hình có chi phí thuốc bảo vệ thực vật thấp hơn ruộng nông dân khoảng 1,74 triệu đồng/ha và tổng thu cao hơn ruộng nông dân 3,4 triệu đồng/ha, lợi nhuận tăng 5,1 triệu đồng/ha so với ngoài mô hình.

+Chuyển giao kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI ở 4 huyện Tuy Phước, Tây Sơn, Phù Cát, Hoài Nhơn. Tổng diện tích triển khai 1616 ha, với 6912 hộ tham gia. Chương trình đã giúp cho bà con nông dân gieo sạ mật độ hợp lý, bón phân đúng thời điểm theo yêu cầu dinh dưỡng của cây lúa, quản lý sâu bệnh theo chương trình IPM nên đã giúp nông dân giảm được chi phí sản xuất (lượng giống gieo sạ, phân bón, thuốc trừ sâu). Nhưng tăng được năng suất, chất lượng,tăng hiệu quả kinh tế, giảm khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính.

 5. Về công tác an toàn thực phẩm

Hàng năm, phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật và các đơn vị có liên quan tổ chức tập huấn các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, tuyên truyền sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn hiệu quả cho bà con nông dân; đặc biệt chú ý các vùng trồng rau và cây ăn quả tập trung. Phổ biến các văn bản pháp quy liên quan đến việc sản xuất, kinh doanh, buôn bán và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; tuyên truyền, vận động nông dân nâng cao ý thức thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật, sau khi sử dụng tiêu hủy đúng cách, đúng nơi quy định.

Thời gian tới, Hộisẽ thực hiện một số biện pháp, giải pháp chủ yếu như sau:

- Tiếp tụctập trung nghiên cứu ứngdụng các loại giống cây trồng mới năng suất cao, phù hợp với điều kiện thời tiết trong tỉnh; chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng; chuyển đổi mùa vụ, góp phần nâng cao năng suất, sản lượng lương thực;

- Phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtvà các địa phương làm tốt công tác điều tra, dự tính, dự báo, theo dõi chặt chẽ diễn biến và quy luật phát sinh gây hại; sớm phát hiện và hướng dẫn nông dân phòng trừ đồng bộ, kịp thời nên đã cơ bản khống chế được dịch hại cây trồng, đảm bảo an toàn cho sản xuất;

- Phối hợp với các ngành có liên quan thực hiện các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ; thực hiện các mô hình khuyến nông thâm canh cây trồng năng suất cao, phù hợp với điều kiện thời tiết, địa hình của tỉnh; kết hợp với tăng cường công tác đào tạo, tập huấn kỹ thuật sản xuất để nông dân tiếp cận những tiến bộ kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất;

- Tích cực triển khai nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, nhất là ứng dụng công nghệ sinh học vào công tác khảo nghiệm, sản xuất thử, chọn được các bộ giống lúa thích hợp với những tiểu vùng sinh thái trong tỉnh, góp phần hạn chế sâu, bệnh phát sinh gây hại, từng bước nâng cao sản lượng lương thực của tỉnh.

Để thực hiện có hiệu quả hơn nữa công tác hướng dẫn chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp đến nông dân các địa phương trong tỉnh; Hội KHKTBVTV cũng mong muốn tỉnh quan tâm đưa ra cơ chế thuận lợi để Hội tiếp nhận và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho cộng đồng; Sở KH&CN tham mưu UBND tỉnh có chính sách hỗ trợ chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật từ những đề tài, dự án đã được nghiệm thu đạt kết quả tốt  để ứng dụng rộng rãi trong đời sống sản xuất.

                                                                                                                        Hồ Ngọc Hùng

                                                                                                 Chủ tịch Hội Khoa học Bảo vệ thực vật Bình Định

 


KT  (Cập nhật ngày 12-12-2018)    



Các tin liên quan:
  Đại hội đại biểu Hội Làm vườn Bình Định lần thứ V, nhiệm kỳ 2018 – 2023 (07-12-2018)
  Hội Sinh vật cảnh tỉnh Bình Định: Triển khai kế hoạch tổ chức lễ hội Hoa mai (06-12-2018)
  UBND tỉnh Bình Định ký quyết định công nhận Ban Chấp hành Hội Xây dựng tỉnh khóa VI (06-12-2018)
  Hội Sinh vật cảnh Bình Định: Tổng kết hoạt động năm 2018 (03-12-2018)
  Hội Y học tỉnh Bình Định tập hợp đội ngũ trí thức, vận động và tạo điều kiện cho hội viên tham gia nghiên cứu khoa học (26-11-2018)
  Hình ảnh hoạt động
  Lịch
sitemap
 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Hoi kien truc su binh dinh
Hội Xây dựng Bình Định
 Hội Thủy lợi Bình Định
Nop ho so truc tuyen
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
CÔNG KHAI DỰ TOÁN LIÊN HIỆP HỘI
  Thống kê người dùng
  Đang online:
14
  Số lượt truy cập:
1957108
 
Bản quyền website thuộc về:LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT BÌNH ĐỊNH. ĐT: 056.3828598. Email: lhhbdinh@gmail.com. Địa chỉ: 472 Trần Hưng Đạo, TP.Quy Nhơn. Chịu trách nhiệm quản lý: TTND.BSCKII Nguyễn Thị Thanh Bình - Chủ tịch Liên hiệp Hội