Liên kết web
congbao
Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam
cổng thông tin
Hội thi sáng tạo KH&KT tỉnh Bình Định lần thứ XI (2018-2019)
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LIÊN HIỆP CÁC HỘI KH&KT BÌNH ĐỊNH LẦN V (2018-2023)
Công ty Dược - Trang thiết bị y tế Bình Định (Bidiphar)
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bình Định
Cuộc thi STTTNNĐ lần V năm 2018
Ngành công nghiệp khai khoáng là một ngành công nghiệp quan trọng cho sự phát triển của đất nước, đã đóng góp không nhỏ cho ngân sách nhà nước, góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, phục vụ nhu cầu xây dựng các công trình ở địa phương. Tuy nhiên, việc doanh nghiệp thực hiện khai khoáng thời gian qua đã và đang có những ảnh hưởng đến cộng đồng, khói bụi, ô nhiễm nguồn nước, không khí, chỗ ở… đã làm vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp khai khoáng với cộng đồng địa phương ngày một nghiêm trọng. Mỏ đá xây dựng núi Chùa đã và đang được UBND tỉnh Bình Định cấp phép cho 06 doanh nghiệp thực hiện khai thác khoáng sản. Việc thực hiện trách nhiệm xã hội về quy định bảo vệ môi trường cho công tác cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản là điều bắt buộc cho doanh nghiệp, nhưng thực tế vẫn còn nhiều bất cập.

Sơ đồ vị trí các đơn vị KTKS tại mỏ đá núi Chùa, xã Mỹ Hòa

1. Khái quát về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) đang trở thành mối quan tâm của quốc tế, của mọi quốc gia, nói cách khác là sự quan tâm của thời đại. CSR đã được sử dụng lần đầu tiên vào những năm 1950 nhưng chỉ thực sự được áp dụng rộng rãi khoảng thập niên cuối của thế kỷ trước. Ngày 31/01/1999 tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc - Kofi Annan đã kêu gọi lãnh đạo các doanh nghiệp (DN) bàn về một công ước quốc tế có sứ mạng tập hợp các DN, các cơ quan công quyền, các tổ chức dân sự thông qua những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ môi trường sinh thái và ổn định xã hội. Cho đến nay, khái niệm CSR vẫn đang được tiếp tục thảo luận.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR đi từ đơn giản đến phức tạp phụ thuộc vào quan điểm, quy mô của mỗi DN và quốc gia. Gần đây chuyên gia của Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm được đánh giá là hoàn chỉnh, rõ ràng và dễ hiểu: “CSR là sự cam kết của DN đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình họ; cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả DN cũng như phát triển chung của xã hội”.

Việt Nam ứng dụng phổ biến theo khái niệm mà WB đưa ra gần đây. Thực tế, đa số các DN ở Việt Nam, đặc biệt là các DN vừa và nhỏ thực hiện CSR chủ yếu là các hành động về từ thiện, nhân đạo. Tuy nhiên, nhân đạo, từ thiện chỉ là trách nhiệm tùy tâm trong rất nhiều nội dung của thực hành CSR.

Mô hình “Kim tự tháp” về CSR được A. Carroll (1999) kế thừa và phát triển từ mô hình 3Ps. Theo đó, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế (Cần phải có lợi nhuận), trách nhiệm pháp lý (Cần phải hoạt động theo đúng luật pháp), trách nhiệm đạo đức (Thực hiện đúng những gì được coi là công bằng, đúng đắn, hợp lý) và trách nhiệm tùy tâm (Là một công dân trách nhiệm tốt. Có đóng góp cho nguồn lực cộng đồng, cải thiện chất lượng cuộc sống). Mô hình này có tính toàn diện và khả thi cao, có thể được sử dụng làm khuôn khổ cho tư duy chính sách của Nhà nước về CSR.

Ngày nay, CSR được đo lường và quy chuẩn thông qua mức độ tuân thủ pháp luật cũng như mức độ thực hiện theo các bộ tiêu chuẩn (Code of Conduct - CoC) do các tổ chức hay các DN ban hành. Bộ tiêu chuẩn (CoC) với tư cách là quy tắc của bên đầu tư: Một số bộ tiêu chuẩn CoC do các tổ chức quốc tế xây dựng như là: Hiệp ước Toàn cầu (UNGC) của Liên Hợp Quốc năm 2000, nguyên tắc Xích đạo, sáng kiến báo cáo toàn cầu (GRI). Bộ tiêu chuẩn (CoC) áp dụng tại DN: Các bộ CoC do các tổ chức quốc tế xây dựng và ban hành hoặc là nhằm hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm hoặc là để cấp chứng chỉ cho DN. Một số bộ CoC liên quan đến CSR như: ISO 14000, ISO 9000, SA 8000, … Gần đây nhất, vào tháng 10/2010, Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế đã công bố một hướng dẫn về CSR của DN (ISO 26000). Theo ISO 26000, CSR được hiểu là trách nhiệm của một tổ chức đối với các tác động từ các quyết định và hoạt động của họ đến môi trường (MT) và cộng đồng, thông qua các hành xử trung thực và có đạo đức. Trong thực tế, CSR có thể được hiểu là DN cần có một cách tiếp cận dài hạn để giải quyết các vấn đề liên quan đến cộng đồng, người lao động và MT.

2. Khái quát về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

Cải tạo, phục hồi môi trường (CT, PHMT) là một nội dung quan trọng trong hoạt động khoáng sản. Hiện nay, công tác CT, PHMT được thực hiện ngay trong quá trình khai thác khoáng sản ((KTKS) (vừa khai thác vừa CT, PHMT). Đây là một trong những quy định của pháp luật về MT cho DN trong KTKS. Việc thực hiện CT, PHMT càng sớm sẽ càng ít chi phí cho DN và ít tác động MT, KT-XH cho cộng đồng. 

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2, Quyết định số 18/2013/QĐ-TTgvề CT, PHMTvà ký quỹ CT, PHMTđối với hoạt động KTKS, thì CT, PHMTtrong KTKSlà hoạt động đưa MT, hệ sinh thái (đất, nước, không khí, cảnh quan thiên nhiên, thảm thực vật,...) tại khu vực KTKSvà các khu vực bị ảnh hưởng do hoạt động KTKSvề trạng thái MTgần với trạng thái MTban đầu hoặc đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn, MTvà phục vụ các mục đích có lợi cho con người.

Như vậy, CT, PHMT được hiểu theo 2 nghĩa là cải tạo và hoàn thổ. Cải tạo (rehabilitation) là điều chỉnh hiện trạng theo mục đích sử dụng đất có lợi khác. Hoàn thổ (reclamation) là đưa mỏ đã được khai thác trở về tình trạng giống hoặc gần giống như trước khi khai thác với đầy đủ các giá trị về MT, di sản hay bảo tồn.

Tuy nhiên, do đặc thù khai thác mỏ là lượng khoáng sản lấy đi quá lớn nên việc hoàn thổ sẽ chuyển sang lựa chọn hướng cải tạo mỏ. Đây là hướng chủ đạo trong việc thực hiện PHMT sau khi kết thúc KTKS với mục tiêu là sử dụng mặt bằng sau khai thác cho phát triển KT-XH.

3. Khái quát về hiện trạng KTKS tại mỏ đá núi Chùa

 

 

 

    Theo thống kê của phòng TN&MThuyện Phù Mỹ,tính đến ngày 9/1/2018, tại mỏ đá khu vực núi Chùa, xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ hiện có 06DNđang tiến hành khai thác.

       Danh mục các đơn vị KTKS được thống kê trong bảng 1.

Hình 1: Sơ đồ vị trí các đơn vị KTKS tại mỏ đá núi Chùa, xã Mỹ Hòa

Bảng 1. Hiện trạng KTKS tại mỏ đá núi Chùa, xã Mỹ Hòa

 

STT

 

Đơn vị KTKS

 

Số Giấy phép

Diện tích (ha)

 

Trữ lượng/công suất (m3/ /năm)

Hiện trạng KTKS

Đang KTKS

Ngừng  KTKS

1

Cty TNHH Hoàn cầu Granite

24/GP- UBND ngày 06/5/2016

11.3

4.228.525/126.860

 

 

 

2

Cty CP VRG đá Bình Định

502/QĐ-UBND, ngày 28/02/2013; QĐ gia hạn 1130/QĐ-UBND ngày 01/4/2015

4.00

400.000/3.000

 

x

 

3

DNTN Bảo Thắng

51/GP-UBND ngày 11/8/2008; QĐ gia hạn 1742/QĐ-UBND, ngày 22/5/2015

2.00

65.236/2.000

 

x

 

4

Cty CP MTV Tuấn Đạt

48/GP- UBND ngày 26/5/2015

2.04

40.800/1.200

 

x

 

5

Cty TNHH Minh Hoàng

76/GP- UBND ngày 30/6/2011

2.87

100.000/4.000

 

 

x

6

Cty TNHH đá Granite Đông Á

30/GP- UBND ngày 01/3/2011; QĐ gia hạn 1131/QĐ-UBND ngày 01/4/2015

4.20

14.080/7.004

 

 

x

 

Qua đợt khảo sát thực tế và thu thập dữ liệu của tác giá, nhận thấy rằng: Trong 06 DN hoạt động KTKS tại núi Chùa, có 02 DN đã ngừng KTKS (công ty TNHH Minh Hoàng, công ty TNHH đá Granite Đông Á); 04 DN đang KTKS theo quy định được cấp phép.

Theo biên bản kiểm tra của phòng TN&MT huyện Phù Mỹ ngày 09/1/2018, các DN đang khai thác đúng trên diện tích quy định. Tuy nhiên, DNTN thương mại và dịch vụ Bảo Thắng đang khai thác ngoài phạm vi diện tích theo giấy phép số 1742/QĐ-UBND, ngày 22/5/2015 là 01ha (trong đó 0,9ha thuộc đất chức năng rừng phòng hộ có trạng thái rừng IIA căn cứ theo Quyết định 358/QĐ-UBND ngày 04/08/2010 của UBND tỉnh). Ngoài ra, DN này đã dùng xe mở tuyến đường dài khoảng 200m, diện tích 1.687m2, ngoài diện tích mỏ nhưng không khai thác. Kết quả khảo sát, đo đạc tại một số moong khai thác, các thông số trong hệ thống khai thác chưa đảm bảo theo thiết kế (góc nghiêng sườn tầng, bãi thải...). MT chỉ ảnh hưởng cục bộ trong khu mỏ. Tuy nhiên, phần hạ lưu khu mỏ (nằm phía bắc) có nguy cơ sa bồi, có thể kéo theo đất đá xuống hồ Đá Trải nếu có mưa.

4. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội trong công tác CT, PHMT tại núi Chùa

Việc sử dụng MBSKT (nếu có) tại 06 đơn vị KTKS khu vực mỏ đá núi Chùa theo hướng cải tạo MT. Kết quả tổng hợp từ 06phiếu điều tra và khảo sát hiện trường, nhận thấy hiện trạng sử dụng MBSKTđối với các mỏ khoáng sản là chưa thật sự đồng bộ (bảng 2). Tỉ lệ đơn vị KTKS xong, đã CT, PHMT là 100%. Tỉ lệ đơn vị đang khai thác có CT, PHMT là 0%.

Bảng 2:Bảng thống kê tình hình thực hiện sử dụng MBSKT tại núi Chùa

Loại khoáng sản

Số mỏ

khảo sát

Khai thác xong

Đang khai thác

Số mỏ

Đã CT, PHMT

Chưa CT, PHMT

Tỉ lệ CT, PHMT(%)

Số mỏ

Đã CT, PHMT

Chưa CT, PHMT

Tỉ lệ CT, PHMT(%)

Đá VLXD

6

2

2

0

100

4

0

4

0

 

Trong tổng số 02 đơn vị đã ngừng KTKS (Công ty TNHH Minh Hoàng (ngừng KTKS từ năm 2012) – Phía Tây Bắc khu mỏ; Công ty TNHH đá Granite Đông Á (ngừng KTKS từ năm cuối năm 2016) – Phía Nam khu mỏ) thì theo phương án CT, PHMT trong đề án CT, PHMT mỏ là san lấp đất và trồng keo. Như vậy, 02 DN này đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật về thực hiện CSR là có CT, PHMT (tỉ lệ có thực hiện CT, PHMT là 100%) sau kết thúc KTKS. Công tác CT, PHMT chỉ dừng lại ở từng mỏ khoáng sản riêng lẻ. Tuy nhiên, thực tế hiện trường cho thấy, tại diện tích được cấp phép, địa hình có sự thay đổi rõ rệt, công tác trồng cây vẫn chưa hiệu quả, cây mọc rải rác, đất có chỗ bị xói mòn, đá dăm vụn lổm chổm trên bề mặt.

Cũng trong thời gian hiện tại, có 04 đơn vị KTKS đang hoạt động KTKS, nhưng ko thực hiện phương thức vừa khai thác vừa CT, PHMT(tỉ lệ có thực hiện CT, PHMT là 0%). Nhìn chung, các phương án CT, PHMT và sử dụng MBSKT tại 06 đơn vị KTKS là chưa đồng bộ và có hiệu quả. Kết quả điều tra, tổng hợp được thống kê trong bảng 3.

Bảng 3:Phương án CT, PHMT các đơn vị KTKS

 

STT

 

Đơn vị KTKS

Diện tích (ha)

Phương án CT, PHMT

Đất san lấp (m3)

Hiện trạng sử dụng MBSKT mỏ

1

Công ty TNHH Hoàn cầu Granite

11.3

San lấp đất + trồng cây(keo lai)

1.505.000

Địa hình có sự thay đổi, có 1 hố sâu cos + 1,5m tại phía Nam khu mỏ không vành đai che chắn, công tác trồng cây vẫn chưa thực hiện, chỉ rải rác cây bụi. DN đang tiếp tục khai thác về phía Đông.

2

Công ty Cổ phần VRG đá Bình Định

4.00

San lấp đất + trồng cây (keo lai)

589.000

Địa hình có sự thay đổi, đá nguyên khối, dăm vụn để thành đống

3

DNTN Bảo Thắng

2.00

San lấp đất + trồng cây (keo lai)

450.000

Địa hình có sự thay đổi, đá nguyên khối, dăm vụn để thành đống

4

Công ty CP MTV Tuấn Đạt

2.04

San lấp đất + trồng cây (keo lai)

520.000

Địa hình có sự thay đổi, đá nguyên khối, dăm vụn để thành đống. Phía Tây khu mỏ có 1 hố sâu cos +2,0m, không vành đai che chắn. DN đang tiếp tục khai thác.

5

Công ty TNHH Minh Hoàng

2.87

San lấp đất + trồng cây ( keo lai)

590.500

Đất sườn núi trống trải, cây keo lai mọc rải rác xen lẫn cây bụi, cỏ.

6

Công ty TNHH đá Granite Đông Á

4.20

San lấp đất + trồng cây (keo lai)

650.700

Đất sườn núi trống, một vài cây keo lai chưa thành thục khoảng 0,3m, xen lẫn cây bụi, cỏ,  đá dăm vụn lổm chổm trên bề mặt.

Theo bảng 3, trong 04 DN đang KTKS có sự thay đổi địa hình, như công ty TNHH Hoàn Cầu có hố sâu cos +1,5m; công ty CP MTV Tuấn Đạt có hố sâu cos+ 2,0m; cảnh quan thay đổi, lỏm chởm chỗ thấp, chỗ cao, bờ vách mong không vành đai che chắn, dăm vụn đổ thành đống, đá nguyên khối tập kết thành bãi. Nhìn chung, 04 DN này không thực hiện vừa khai thác vừa CT, PHMT như theo quy định pháp luật. Và theo nhìn nhận của tác giả, vấn đề quy định này của pháp luật cũng khó có thể thực hiện có hiệu quả tại các DN KTKS đá VLXD. 02 DN đã dừng KTKS, đất sườn được san lấp không đồng đều, rải rác một vài cây keo lai (khoảng 0,2m – 0,3m), cây bụi, cỏ, đá dăm vụn lỏm chỏm trên bề mặt.

Như vậy, nghĩa vụ và trách nhiệm CSR của 06 DN trong công tác thực hiện CT, PHMT tại mỏ đá núi Chùa được quy định rõ ràng trong pháp luật về BVMT, DN vẫn có thực hiện nhưng vấn đề hiệu quả sau CT, PHMT chưa được quản lý rõ ràng. Công tác CT, PHMT và sử dụng đất sau khai thác chỉ mới dừng lại ở từng điểm mỏ các DNriêng lẻ, không thể hiện tính chất đồng bộ cho toàn cụm; thực hiện CT, PHMT theo phương án đã được phê duyệt trong báo cáo ĐTM hoặc cam kết BVMT vẫn chưa khả thi.Thậm chí, có thể đánh giá rằng, DN thực hiện mang tính chất đối phó, và chưa được kiểm chứng xác nhận tại địa phương.

5. Giải pháp nâng cao nhằm cải thiện và thúc đẩy việc thực hiện CSR cho các DN tại mỏ đá núi Chùa trong công tác CT, PHMT

Thực hiện CSR cho DN khai khoáng là vấn đề đang bàn luận tại Việt Nam. Đây cũng là vấn đề cần làm rõ giữa 3 bên nhà nước – doanh nghiệp – cộng đồng. Thực tế, tại cụm mỏ đá núi Chùa, các DNđã thực hiện CSR bằng cách đóng góp đầy đủ các khoản thuế, phí, tiền cấp phép KTKS và xây dựng cơ sở hạ tầng đường xá, điện nước….nhưng thực tế, người dân vẫn lên tiếng những vấn đề MT, xã hội. Để đảm bảo tốt cho DN thực hiện CSR trong KTKS, cần thiết phối hợp các giải pháp sau.

Về phía cơ quan Nhà nước

Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và hiệu lực trong thực thi pháp luật về MT. Cần phải có sự thống nhất thực hiện triệt để và nghiêm túc các quy định về pháp luật môi trường. Công tác CT, PHMT thường khó khăn và tốn nhiều kinh phí. Do vậy, các văn bản như Quyết định số 18/ 2013/TT-CP và Thông tư 38/2015/TT-BTNMT cần phải được quán triệt và yêu cầu các DN phải thực hiện.

Nghiên cứu cơ chế, chính sách hỗ trợ đối với DN. Triển khai các hoạt động xúc tiến, hỗ trợ phù hợp như: tư vấn thủ tục, đào tạo nâng cao nhận thức MT, hỗ trợ công nghệ, hay hỗ trợ nguồn lực tài chính với các chính sách ưu tiên, ưu đãi.

Tuyên truyền, quảng bá rộng rãi về CSR. Hiện nay, các DN đều hiểu CSR là từ thiện hoặc thực hiện đúng pháp luật về MT trong KTKS, đó là những khoản tiền thuế; phí; lệ phí; ký quỹ CT, PHMT; tiền cấp quyền KTKS… Những vấn đề như xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, đường xá, điện nước tại khu vực mà DN được cấp phép hoạt động khoáng sản thực hiện cho cộng đồng dân cư cũng mới chỉ phục vụ cho quá trình KTKS là chính. Chính vì thế, quan điểm và tiêu chí đánh giá được áp dụng cho DN cần phải nghiên cứu và áp dụng.

Phát triển các dịch vụ chuyên ngành MT.Phát triển các dịch vụ chuyên ngành MT: dịch vụ xử lý chất thải, dịch vụ tư vấn…hỗ trợ DN trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

 Xây dựng và phát triển sự tương hỗ giữa Chính phủ - Doanh nghiệp - cộng đồng: Thực hiện CSR cũng chính là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Chính phủ, DN và cộng đồng địa phương trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.

Về phía doanh nghiệp

Tuân thủ triệt để các quy định về BVMT: Các DN KTKS tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định về BVMT cũng chính là thực hiện CSR một cách thiết thực.

Xây dựng hệ thống quản lý MT DN theo tiêu chuẩn quốc tế: Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ sạch, thân thiện với MT, phát triển các công nghệ xử lý và tái chế, tái sử dụng chất thải; xây dựng hạch toán quản lý MT và hệ thống quản lý MT theo tiêu chuẩn ISO 14000, SA 26000,…..

 Thực hành CSR dựa trên tình hình thực tiễn của DN: DN có thể bắt đầu làm CSR từ những hành động nhỏ với những mục tiêu vừa phải.

 Cải thiện MT DN: tiết kiệm nặng lượng, nước và tài nguyên thiên nhiên; cải thiện MT làm việc cho nhân viên; quản lý chất thải do DN tạo ra, đầu tư hệ thống xử lý chất thải tương thích với năng suất của DN.

Về phía người dân

Quyền được giám sát, tham vấn của người dân cần phải nêu rõ trong bảng đánh giá tác động MT và các đề án CT, PHMT của DN.

Quyền được giám sát để theo dõi việc chi tiêu phí BVMT của địa phương để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng hơn.


KT  (Cập nhật ngày 06-09-2018)    



Các tin liên quan:
  Hội nghị Công bố Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Bình Định (31-08-2018)
  Hội thảo đánh giá kết quả thực hiện chính sách phát triển khoa học, công nghệ và nhân lực trình độ cao (23-08-2018)
  80 nhà khoa học tham gia Hội nghị quốc tế “Các hiện tượng năng lượng rất cao trong Vũ trụ” (13-08-2018)
  Giáo sư Jerome Friedman đã có buổi giao lưu khoa học với học sinh, sinh viên tại Tp. Quy Nhơn (09-08-2018)
  Khởi công xây dựng khách sạn “Vì Khoa học” (06-08-2018)
  Hình ảnh hoạt động
  Lịch
sitemap
 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Hoi kien truc su binh dinh
Hội Xây dựng Bình Định
 Hội Thủy lợi Bình Định
Nop ho so truc tuyen
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
CÔNG KHAI DỰ TOÁN LIÊN HIỆP HỘI
  Thống kê người dùng
  Đang online:
50
  Số lượt truy cập:
1555816
 
Bản quyền website thuộc về:LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT BÌNH ĐỊNH. ĐT: 056.3828598. Email: lhhbdinh@gmail.com. Địa chỉ: 472 Trần Hưng Đạo, TP.Quy Nhơn. Chịu trách nhiệm quản lý: TTND.BSCKII Nguyễn Thị Thanh Bình - Chủ tịch Liên hiệp Hội