LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT BÌNH ĐỊNH
  
  Liên kết web
congbao
Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam
cổng thông tin
Hội thi sáng tạo KH&KT tỉnh Bình Định lần thứ X (2016-2017)
Công ty Dược - Trang thiết bị y tế Bình Định (Bidiphar)
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bình Định
Cuộc thi STTTNNĐ lần V năm 2018
Một trong những tiêu chí của UNESCO đề ra cho loại hình văn hoa phi vật thể đó là nó phải có tính lịch sử của nó, có nguồn gốc xuất xứ của nó, hiện nay nó còn sống trong cộng đồng không vv.....Nhân dịp Bài Chòi được UNESCO công nhân là văn hóa phi vật thể của nhân loại, xin đi sâu vào cách đánh bài chòi cổ của người Bình Định .

1. Thiết kế sân đánh bài chòi:

Bài Chòi xuất phát từ người dân lao động, cho nên cách chơi bài chòi cũng rất giản dị, ít tốn kém. Nơi chơi thường là đám đất trước đình làng rộng khoảng 200m2, hoặc một đám ruộng mới thu hoạch chưa cày hoặc một đám gò đất hoang. Cách bố trí dựng chòi có 3 dạng, hình thuẫn, hình tròn, và hình chữ U ..Chòi được dựng theo hai kiểu, chòi kiểu không có sàn và chòi có sàn. Chòi không sàn gọi là chòi trệt, giống kiểu chòi giữ lúa; chòi có sàn, giống kiểu chòi giữ rẫy. Chính giữa các chòi người ta dựng một chiếc chòi được trang hoàng đẹp đẽ để trống 4 vách, chòi này gọi là chòi Cái. Thông thường người ta kê một tấm phản rồi làm mái che. Chính giữa đám đất sát chòi cái người ta chôn hai ống hoặc bốn ống tre để đựng thẻ bài. Một ống đựng thẻ đang chơi, một ống đựng thẻ thu về. Trong chòi cái có tốp nhạc công gồm các nhạc cụ đàn, kèn, sênh, trống mang tính cây nhà lá vườn không câu nệ cầu kỳ, và tham gia một cách tự nguyện, không phải thuê mướn. Xoay quanh chòi cái là những chòi con gồm 9 cái, chòi cất cao hơn qúa đầu người ba mặt vây kín, mặt để trống hướng tâm, bước lên chòi người ta làm một chiếc thang nhỏ leo lên, leo xuống, sàn chòi đủ để trải một chiếc chiếu hoa đủ chứa 3 - 4 người ngồi. Trên bậc thang lên xuống, trước mặt sàn chòi, có treo một chiếc mõ hoặc một chiếc trống tum, một khúc cây chuối tươi hay một bó rơm cột chặt dùng để cắm thẻ. Các chòi con cất cách nhau cứ 3 m một chòi. Chín chòi con này gọi là chín chân bài .

Một cảnh đánh bài chòi tại Quy Nhơn

Chòi trung tâm được dựng tại một cạnh nối các chòi con thành một vòng tròn, chòi này cũng giống như chòi cái được dựng lên che bộ phản ngựa làm sàn. Một cạnh trong của bộ phản kê hai chiếc trống chầu, trước hai chiếc trống chầu được kê một chiếc bàn to. Trên bàn để khay tiền và đống lá cờ hiệu kiểu đuôi nheo bằng giấy hồng, cắt xéo hình tam giác rồi dán lên cán tre chẻ nhỏ. Những người có địa vị, uy tín trong làng ngồi ở chòi trung tâm này. Người tham dự đứng vây quanh các chòi để thưởng thức các bài ca, tiếng nhạc, xem múa và vui đùa.

- Con bài: Đánh bài chòi, người ta dùng con bài tam cúc dán lên thẻ. Mỗi con bài gồm có tên bài và hoa bài. Mỗi bộ có 27 cặp, tên bài là cái tên nôm na, dí dỏm gần với cuộc sống thường ngày của người dân lao động như Nhất Nọc, Nhì Nghèo, Ba gà, Tứ Tượng, Ngũ Dít, Lục Chạng, Thất Vung, Bát Bồng, Cửu Điều....Ông Ầm, Bạch Huê, Đổ ruột ... Tên bài có thể gồm cả tên chữ và tên nôm. Không cần có sự trong sáng, đã gọi theo tên chữ thì ghép hai tên chữ hoặc ngược lại. Ví dụ: Con cửu chùa chứ không gọi là con cửu tự; con bảy liễu chứ không gọi là con thất liễu ...

Tên bài không hạn chế, sự tự do định danh của người tham gia, cho nên có tình trạng mỗi người gọi mỗi khác, mỗi nơi có một cách gọi khác nhau. Hoa bài là những hình vẽ trên thân bài, sinh động và lạ mắt.

Thẻ có hai loại, thẻ bài con và thẻ bài cái; thẻ bài con là thẻ của những con bài, thẻ bài cái không có tên riêng nhưng lại có 3 hoa bài.

Pho: Trong bài chòi một bộ có 30 con (cặp) chia làm 3 pho, một yên; một yên có 3 con:lão, thang, chi. Một pho gồm 9 con bài, ba pho là pho văn, pho sách, pho vạn. Thứ tự các con bài trong ba pho lẫn lộn giữa hai cách gọi giữa Hán và Việt. Các tên gọi thuần Việt được xuất hiện trong các pho. Pho văn : Chín, ba, sáu, bảy, tám. Pho vạn : Không có. Pho sách : Ba, sáu, bảy, tám.

2.Cách đánh bài chòi:

Một chân bài chòi là một cửa hay một cột bài. Chín chân bài gồm chín cửa hay chín cột bài. Người điều khiển cuộc chơi gọi là anh Hiệu. Muốn giữ một chân bài trước khi lên chòi phải bỏ tiền mua một thẻ bài cái, cũng có thể người tham dự cuộc chơi bước lên chòi. Khi bắt đầu cuộc chơi anh Hiệu mang ống bài cái leo lên từng chòi rút bài, trả tiền cho vào một cái khay. Anh Hiệu đứng ở chòi cái rút trong thẻ đựng con bài, một thẻ. Rút được con nào anh hô con đó. Các chân bài ngồi trên các chòi nhìn vào thẻ bài cái của mình. Nếu thẻ bài cái của mình có hai con bài đã hô thì chân bài đánh ba tiếng mõ hoặc ba tiếng trống tum, báo hiệu tên con bài đó đã ứng vào thẻ bài cái của chòi mình. Đúng là một hiện tượng kẻ hô người ứng. Anh Hiệu leo lên trao bài trong tiếng nhạc chúc mừng .

Tới : Là khái niệm chứng tỏ một chân bài đáp ứng với ba con đã vẽ trên thẻ bài cái của mình. Lúc này người chơi đánh một hồi mõ kéo dài báo hiệu sự vui mừng bài đã tới. Trống chầu ở chòi trung tâm được tấu lên để chúc mừng. Kết thúc một ván, tiền mua chân bài 9 chòi được để trên một cái khay. Anh Hiệu mang khay tiền và lá cờ đuôi nheo lên trao cho chòi được tới. Có khi người được chỉ nhận lá cờ còn tiền thì thưởng cho anh Hiệu. Anh Hiệu thu các con bài để chuẩn bị chơi hội tiếp.

Hô bài chòi, là hình thức tập trung nhất về mặt nghệ thuật, hô được xem như làn điệu gốc của ca kịch bài chòi. Hô tên con bài nhưng thực chất là hát lên những điệu có liên quan tới con bài, thường là một câu đố vui, dí dỏm để các chân bài và người dự hội đoán được tên con bài. Hô bài chòi được gọi là hô thai. Anh Hiệu, người điều khiển cuộc chơi bài chòi bằng lời ca câu hát. Anh Hiệu phải là người có tài xuất khẩu thành thơ, sự ứng khẩu linh hoạt của anh có tác dụng tập trung chú ý của mọi người tham gia dự hội. Anh Hiệu phải là người thuộc hàng trăm bài thơ khác nhau, hàng ngàn câu ca dao, biết hát nam, hát khách ... những điệu có liên quan đến nghệ thuật tuồng rất phổ biến ở địa phương. Do sự điều khiển, lời hô dí dỏm của anh mà làm cho không khí trong hội đánh bài chòi thêm sôi động, kích thích sự chú ý của các chân bài và người tham gia dự hội, khêu gợi được sự tò mò suy đoán của mọi người. Người ngồi trên chòi hào hứng lắng nghe để hy vọng chân bài của mình sẽ tới, thả trí của mình theo lối diễn xướng của anh Hiệu để cầu mong một sự tốt lành vào dịp đầu xuân, đón hên xui ngày xuân [1].

Một ván bài có khi kéo hàng giờ, và ít khi một chòi ăn liên tiếp hai, ba con, trước khi hô tên con bài chú Hiệu phải theo tiếng đàn, nhịp trống, hô một câu ý nghĩa ăn với một con bài rút được, câu ngắn nhất 14 chữ, nhiều khi còn kéo dài hàng trăm chữ, vừa hô vừa điệu bộ như hát bội. Thỉnh thoảng xen đôi câu hát nam, hát khách ... cho thêm vui [2].

Bài chòi là một trò chơi dân gian thường được diễn ra vào mùa xuân, người ta đến xem ngoài mục đích tiêu khiển vui chơi trong ba ngày tết, còn có mục đích là đến nghe anh Hiệu thuật chuyện  đời để suy ngẫm, lại có mạch lạc đi qua những tính khí khác  nhau của những con người mà chỉ có anh Hiệu tự cải biến. Bài chòi giờ đã mang khái niệm bài thơ, bài hát. Ngoài ba ngày xuân bà con còn mời anh Hiệu đến sân nhà, rủ hàng xóm góp nông phẩm hoặc chút ít tiền thưởng khích lệ để nghe bài chòi kể chuyện cần giải tỏa những vướng mắc trong cuộc sống hàng ngày, như các bài "mẹ chồng nàng dâu" ăn ở ra sao cho phải đạo, hoặc "Giữ gìn khi thai nghén" dành cho những cô sắp lấy chồng biết cách sau này ăn kiêng ở cữ ... Thỉnh thoảng anh Hiệu quên, nhất là Hiệu mới thì có người nhắc hộ .Thế là các Hiệu kết nhau từ toán đêán "gánh " quanh năm đi vào làng khi đám cưới, khi khánh thành tân gia hoặc lễ mừng thọ với những bài ứng khẩu chúc tụng ... Sau đó lại kể tích Quan Công phục Hoa Dung, Tề thiên đại thánh chiếm quạt ba tiêu của La sát  ...

Cứ thế các Hiệu tiếp tục hành nghề và bộ sậu làm ăn đó đã phải kéo theo trống chiến, đàn nhị, mõ tre phối hợp bằng lối nhịp ba phách mỗi ô trải đều theo vần lục bát vừa sôi nổi qua nhịp nhanh, vừa thiết tha trong nhịp chậm dễ đi vào tâm hồn người lao động  nông thôn.

Khi buồn phảng phất nét nam ai. Khi giận lại nhấn kiểu hát khách  hoặc tẩu mã. Khoan thai đài các nhờ có vài luyến nam xuân. 

 Hài hước thì quay lại điệu xuân nữ nhưng tăng cường với trong nhịp và đẩy mức hóm hỉnh qua cách diễn kể. Nhưng tất cả vẫn tụ về với sắc riêng bài chòi. Đó là loại hình văn nghệ có tiết tấu độc đáo trên vần lục bát. Dù tiếp thu nhiều giai điệu của tuồng cổ cũng để vun cho cái gốc bài chòi bền vững và đi lên. Một môn văn nghệ dân gian ra đời và hình thành luôn gắn bó mật thiết như hai cực âm dương. Đó là quần chúng - nghệ nhân  và nghệ nhân với quần chúng. Mà bài chòi từ đây đủ sức đưa các truyện dân gian như. Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa ... lên "sân khấu trải chiếu". Thuật ngữ xưa gọi "bài chòi từ đất lên giàn". Giàn có nghĩa - Dàn kịch mục - Dàn diễn viên và dàn nhạc sơ khai.

Đây được xem là điểm hẹn ra mắt sau những tháng năm bài chòi có duyên nợ vài cô dâu mặc cho ai đó thốt câu mỉa mai.

Phải chăng là gái lạc nòi

Theo gánh bài chòi chẳng kể mẹ cha

 Dưới bóng rợp mái xanh làng dừa, người dân Bình Định vẫn tụ quanh tấm chiếu hoa bài chòi để nghe "chàng Bảy" "nàng Bốn" quê mình vẫn đưa giọng dẫn nhịp cho vơi bớt nỗi cực nhọc hàng ngày. Nhất là lớp trung niên trở lên, ngồi trầm tư qua khói thuốc miếng trầu mà thấm điều nhân ái, đạo nghĩa trong  những câu chuyện ngày xưa. Thường các bà các chị, lại thích có chút bi thảm. Cứ mỗi lần Thoại Khanh tự róc thịt cắt tay nuôi mẹ chồng trên đường tìm Châu Tuấn , hay nàng Cúc Hoa hiện hồn bắt chí cho con trong truyện Phạm Công là mỗi lần chéo áo, khăn trầu các mẹ, các chị thấm đầy nước mắt ... Rồi lại sờ túi dăm xu cắc chắt chiu cho con cháu bài chòi. Cái hay và tính dân gian của bài chòi là người diễn viên có thể một lúc đóng rất nhiều vai trong một vỡ diễn, vừa thấy đóng Cúc Hoa nhưng một màn khác người ta lại thấy chị đó đóng vai Nghi Xuân, Tiến Lực, sự thay đổi vai có phần đột ngột nhưng người xem hầu như bị cuốn hút vào vở diễn, và gần như họ cũng nhập vai luôn lúc nào không biết. Thường thì bài chòi diễn ở các làng đều là những vở ngắn, không dài mang tính trích đoạn hơn, sân khấu không đòi hỏi, một góc sân hay một không gian nhỏ hẹp nào đó cũng có thể phục vụ được quần chúng. Khác với hát Tuồng thì có trống chầu, thưởng theo nhịp trống. Còn bài chòi có thể mang tính chất "xung kích" hơn, số lượng khán giả nhiều khi không đông, chỉ nội bộ trong một vài gia đình, hay một gia đình cũng có thể biểu diễn được. Thù lao có khi là tiền, nhưng có khi chỉ là sản phẩm nông nghiệp như : Lúa, gạo, ngô, khoai, sắn ... Hiện nay trên một số làng quê còn có những diễn viên dân gian như vậy. Khán giả luôn trung thành với họ là trẻ con trong từng thôn xóm mà họ đến. 

Nhất là đám trẻ con bám sát gánh bài chòi di dời, đứa ôm giúp trống đàn, đứa cuốn chiếu vác theo đến từng xóm, từng ngã ba đường làng rồi ngồi chồm hổm chung quanh rồi giương mắt chờ cái thú vị trong anh chàng "bá nghệ" mà chúng thường buộc các chú phải cho nghe trước khi kể chuyện dài với người lớn , thế là chú Hiệu hát đến đâu chúng nhịp môi theo đến đó rồi ôm nhau cười lăn ra nhất là đoạn cắt tóc cho trẻ con.

...Thình lình chân nó đạp đầu nó xoay

Một tay bên trái tôi phay đi liền ...

Có đứa nài nỉ ba ông Phước - Lộc - Thọ cãi lại cho nghe. Cái khoái của chúng còn mang theo ra bãi cỏ chăn trâu, bò, ra đêm trăng bến cát đứa kể đứa nhắc, cả những đêm gia đình rỗi rãi bên ngọi đèn dầu chị nhịp em hô. Có đứa nhại lại chú Bảy, anh Bốn bài chòi giống hệt cả giọng điệu và bộ dạng khiến cả nhà vui như tết. Lúc này lại có câu mẹ hoặc cha ứng khẩu :

Bài chòi mình kể mình nghe

Tiền giành đi chợ tội gì đem cho

Là loại hình nghệ thuật dễ đi vào mọi tầng lớp nhân dân, cho nên nó đã được sử dụng trong công tác tuyên truyền đuờng lối chính sách của Việt Minh. Ở Bình Định, trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, bài chòi vẫn là hình thức tập hợp dân chúng để ttuyên truyền, nghe phổ biến các chỉ thị của Mặt trận Việt Minh, của Bác Hồ về công tác hậu phương hoặc tin thắng trận gởi về đều được ban thông tin làng bài chòi phát thanh với chiếc loa mo cau cuốn tròn cùng tiếng  trống, tiếng nhị đưa điệu bài chòi với nội dung kháng chiến đến với mọi người như :

Giặc Tây là giống yêu tinh

Mình không đánh nó, nó đánh mình tiêu tan

Anh này khan tiếng thì chị khác lên thay làm cho không khí 9 năm kháng chiến, đêm phát thanh nào cũng như mang âm hưởng mùa xuân.

Từ Hội bài chòi mùa xuân cho bà con bói lộc với vài ba bài anh Hiệu rồi dần dần thành nghệ nhân như: Năm Khá, Chín Qúi, Năm Trong, Nguyễn Đốc và nhiều người được nhà nước phong danh hiệu nghệ sĩ Ưu tú, nghệ sĩ Nhân dân[3]. Bài chòi Bình Định một môn nghệ thuật dân gian đã trở thành sân khấu chuyên nghiệp phát triển ngày càng phong phú, đa dạng ...

Bài : TS.  Đinh BáHòa

Ảnh ; Sưu tầm



[1]. DiệpĐình Hoa, Bài chòi sân khấu ca kịch dân gian Bình Định, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4, 1999, tr. 40-45.

[2]. Quách Tấn, Sđd, tr. 425 - 426.

[3]. Nguyễn Kiểm, Văn hóa cổ truyền các làng quê Bình Định, Sđd, tr. 286-291.


VK  (Cập nhật ngày 13-06-2018)    



Các tin liên quan:
  Đưa vào xây dựng nông thôn mới phải là công nghệ tiên tiến (12-08-2016)
  Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, đảo Việt Nam (05-08-2016)
  Một góc nhìn khác về bằng cấp (04-08-2016)
  Ngôi sao Việt trên bầu trời khoa học thế giới (02-08-2016)
  Viện Nghiên cứu nguyên tử JINR DUBNA vinh danh GS. Trần Thanh Vân (09-07-2016)
  Hình ảnh hoạt động
  Lịch
sitemap
Hoi kien truc su binh dinh
Hội Xây dựng Bình Định
 Hội Thủy lợi Bình Định
Nop ho so truc tuyen
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
  Thống kê người dùng
  Đang online:
100
  Số lượt truy cập:
1427885
 
Bản quyền website thuộc về:LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT BÌNH ĐỊNH. ĐT: 056.3828598. Email: lhhbdinh@gmail.com. Địa chỉ: 472 Trần Hưng Đạo, TP.Quy Nhơn. Chịu trách nhiệm quản lý: TTND.BSCKII Nguyễn Thị Thanh Bình - Chủ tịch Liên hiệp Hội