Liên kết web
congbao
Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam
cổng thông tin
Hội thi sáng tạo KH&KT tỉnh Bình Định lần thứ X (2016-2017)
Sở KH & CN Bình Định
LHH Việt Nam
XÉT CHỌN VÀ TÔN VINH DANH HIỆU \\\\\\\\
Trung tâm Thông tin xúc tiến Du lịch Bình Định
Công ty Dược - Trang thiết bị y tế Bình Định (Bidiphar)
Trung tâm hỗ trợ phát triển công nghệ thông tin tỉnh Bình Định
Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Bình Định
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bình Định
Việt Nam là một quốc gia có biển lớn trong vùng Biển Đông với chỉ số biển khoảng 0,01, gấp 6 lần giá trị trung bình của thế giới. Biển Việt Nam dài và đẹp, lại chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng với trữ lượng, quy mô thuộc loại khá, cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng.

Thực trạng kinh tế biển, đảo Việt Nam

Thực tiễn những năm qua, Việt Nam chưa có một sự quan tâm thích đáng và chiến lược đối với biển đảo, các hình thức triển khai trong phát triển kinh tế biển đảo vẫn nặng về tư duy khai thác, nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế biển chưa xứng tầm, thậm chí còn chưa rõ ràng ngay cả đối với một số bộ, ngành và địa phương ven biển, chưa định hình việc phát triển biển và hải đảo bền vững và toàn diện, tổng thể. Những diễn biến phức tạp gần đây tại Biển Đông, một lần nữa nhắc nhở chúng ta cần có một chiến lược về biển và hải đảo nói chung, trong đó chú ý phát triển bền vững kinh tế biển đảo nói riêng.

Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân đạt khoảng 47- 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt khoảng 20-22% tổng GDP cả nước. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển), du lịch biển. Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thủy hải sản, thông tin liên lạc,...bước đầu phát triển, nhưng hiện tại quy mô còn rất nhỏ bé (chỉ chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước). Các hình thức phát triển kinh tế biển vẫn dựa vào khai thác tài nguyên, việc kiến tạo và xây dựng chiến lược tổng thể phát triển kinh tế bền vững chưa được thực hiện hiệu quả.

Mặc dù đã có sự khởi sắc và đầu tư mạnh mẽ hơn trong thời gian  gần đây, kinh tế trên một số đảo đã có bước phát triển  nhờ chính sách di dân và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên các đảo (hệ thống giao thông, mạng lưới điện, cung cấp nước ngọt, trường học, bệnh xá...) nhưng có thể nhận định một cách khái quát rằng, sự phát triển của kinh tế biển còn quá nhỏ bé và nhiều yếu kém. Quy mô kinh tế biển Việt Nam chỉ đạt khoảng hơn 10 tỷ USD; trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới ước 1.300 tỷ USD, Nhật Bản là 468 tỷ USD, Hàn Quốc là 33 tỷ USD. Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu. Hệ thống cảng biển nhỏ bé, manh mún, thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp.

Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển, nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn. Các sân bay ven biển và trên một số đảo nhỏ bé. Các thành phố, thị trấn, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển còn nhỏ bé, đang trong thời kỳ bắt đầu xây dựng. Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học-công nghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tế biển, các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo thời thiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn,...còn nhỏ bé, trang bị thô sơ.

Ngành du lịch và các dịch vụ du lịch biển Việt Nam có một tiềm năng kinh doanh lớn. Tuy nhiên, ngành du lịch biển vẫn thiếu những sản phẩm dịch vụ biển - đảo đặc sắc có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế, chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt trình độ quốc tế.

Đối với các lĩnh vực kinh tế liên quan trực tiếp đến biển như chế biến sản phẩm dầu, khí; chế biến thủy hải sản, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất muối biển công nghiệp, các dịch vụ kinh tế biển và ven biển (như thông tin, tìm kiếm cứu nạn hàng hải, dịch vụ viễn thông công cộng biển trong nước và quốc tế, nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, xuất khẩu thuyền viên,...) hiện chủ yếu mới ở mức đang bắt đầu xây dựng, hình thành và quy mô còn nhỏ bé.

Tìm hướng phát triển bền vững kinh tế biển đảo

Về tư duy và nhận thức: Cần quán triệt nhận thức đối với kinh tế biển, đảo và việc phát triển kinh tế biển, đảo gắn liền với an ninh, quốc phòng. Xác lập và thống nhất một tầm nhìn xa trông rộng, vững vàng tư tưởng gắn kết đất liền với đại dương, để xây dựng và phát triển văn hóa biển, đảo – văn hóa hướng ra đại dương trong cả cộng đồng và mỗi con người nhằm phát triển một cách bền vững và ổn định.

Về quy hoạch: Muốn phát triển toàn diện, đồng thời có chiều sâu và hiệu quả, bền vững, nhất thiết phải làm tốt công tác quy hoạch bảo đảm cho sự phát triển một cách chủ động. Vẫn còn tình trạng phân tán, thậm chí khép kín, biệt lập giữa các ngành trong tỉnh, các địa phương, dù hầu như tỉnh ven biển nào cũng định hướng, quy hoạch, phác thảo chương trình, mô hình riêng của mình về xây dựng cảng nước sâu, về nhà máy lọc dầu, về khu công nghiệp, về cầu cảng hàng không…, trong khi rất cần một “nhạc trưởng” hay một trung tâm điều phối chung một cách tổng thể về năng lượng, về đất đai, về dân số, về môi trường, về đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng… Và, để điều này không cản trở sức sáng tạo, phát huy năng lực, lợi thế của mỗi ngành, mỗi địa phương… thì cần phải làm gì và làm như thế nào? Phát triển toàn diện, thống nhất nhưng có trọng tâm, trọng điểm là như thế nào? Do đó, việc hoàn thiện chiến lược tổng thể và thực thi hiệu quả đòi hỏi công tác quy hoạch phải gắn với thực tiễn và nắm được xu hướng phát triển của tình hình trong nước, ngoài nước.

Cơ chế phối hợp: Theo lẽ tự nhiên, sự liên kết hợp tác giữa các tỉnh, thành phố có biển, đảo trong cả nước bằng những chương trình hành động cụ thể dựa trên từng lợi thế so sánh, trong tất cả các hướng chiến lược và kế hoạch của từng bước đi là việc tất yếu, là sự sống còn. Cần có một cơ chế phối hợp đồng bộ từ trung ương đến địa phương, giữa các cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân và các cấp chính quyền trong việc xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững.

Chất lượng nguồn nhân lực: Đây là một trong những nhân tố quyết định sự thành công của việc phát triển các ngành kinh tế biển, đảo.

Thực tế triển khai Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 cho thấy, chúng ta đang thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn trong những ngành mũi nhọn: công nghiệp tàu thủy, khai thác dầu khí trên biển, công nghệ lọc hóa dầu, kinh tế hải đảo, thông tin liên lạc biển, bảo vệ môi trường sinh thái biển…, trong khi quy mô đào tạo, các ngành nghề liên quan tới kinh tế biển còn rất hạn chế. Do đó, phải tập trung rà soát, dự báo dài hạn về nhu cầu nguồn nhân lực; tổ chức đào tạo những ngành mới có nhu cầu cao trên cơ sở cân đối tỷ lệ đào tạo theo bậc và ngành nghề; đa dạng hóa phương thức và quy mô đào tạo để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế biển bền vững.

Giải quyết hiệu quả vấn đề an sinh xã hội: An sinh xã hội cần được đặt ở vị trí ngang tầm vừa là nền tảng, vừa là mục tiêu và động lực đối với lộ trình hướng ra biển lớn hiệu quả và gìn giữ sự bình yên của đại dương theo hướng kết hợp hữu cơ kinh tế biển, đảo với kinh tế duyên hải; phát triển kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng, an ninh.

Đổi mới chính sách đầu tư, trước hết là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chính sách tín dụng, hỗ trợ giá cả một cách cụ thể, hiệu quả, để đồng bào diêm dân khắc phục khó khăn, nỗ lực sản xuất. Tiếp tục xây dựng chương trình phát triển du lịch - dịch vụ, nhất là du lịch ven biển, hải đảo, tăng cường hợp tác liên doanh ở mọi cấp độ, mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, thu hút nhiều lao động, tạo thêm nhiều việc làm.

Chú trọng phát triển công tác giáo dục - đào tạo, y tế cơ sở ở các vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo. Tăng cường sự gắn bó giữa ngư dân, các tầng lớp cư dân vùng biển với các lực lượng vũ trang, trực tiếp là Bộ đội Biên phòng để giúp nhau sản xuất, nâng cao đời sống văn hóa, tạo dựng thế trận lòng dân vững chắc bảo vệ vùng biển, đảo của Tổ quốc.

                                                                                                                      Theo Ths. Trần Minh Hải

                                                                                                                         (trithucvaphattrien.vn)


KT  (Cập nhật ngày 05-08-2016)    



Các tin liên quan:
  Một góc nhìn khác về bằng cấp (04-08-2016)
  Ngôi sao Việt trên bầu trời khoa học thế giới (02-08-2016)
  Viện Nghiên cứu nguyên tử JINR DUBNA vinh danh GS. Trần Thanh Vân (09-07-2016)
  Hưởng ứng Ngày Môi trường 5/6, Đại dương thế giới (8/6) và Tuần lễ Biển - Hải đảo Việt Nam (1-8/6/2016): VÌ MỘT ĐẠI DƯƠNG XANH (02-06-2016)
  Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ (05-05-2016)
  Hình ảnh hoạt động
  Thông báo
GIẢI THƯỚNG SÁNG TẠO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
CÁC BẠN NHẤP VÀO BIỂU TƯỢNG VIFOTEC BÊN TRÁI MÀN HÌNH ĐỂ TÌM HIỆU VỀ THỂ LỆ VÀ MẪU ĐƠN ĐĂNG KÝ
  Lịch
  Video
sitemap
Trung tâm DSTT Bình Định
Hoi kien truc su binh dinh
Nop ho so truc tuyen
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
  Thống kê người dùng
  Đang online:
44
  Số lượt truy cập:
792072
 
Bản quyền website thuộc về:LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT BÌNH ĐỊNH. ĐT: 056.3828598. Email: lhhbdinh@gmail.com. Địa chỉ: 472 Trần Hưng Đạo, TP.Quy Nhơn. Chịu trách nhiệm quản lý: TTND.BSCKII Nguyễn Thị Thanh Bình - Chủ tịch Liên hiệp Hội